Hiển thị các bài đăng có nhãn bài báo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bài báo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2015

Góc nhìn từ sự mất dần những tiệm cho thuê sách truyện

Tác giả hình: Bảo Vinh - HueS.vn
1. Trong một bài viết mà tôi đọc cách đây hơn một năm tựa đề Sách & Tôi của tác giả Phạm Điệp Giang có đoạn xin được trích dẫn như sau: "Xưa nay, những dân tộc được trân trọng là những dân tộc gìn giữ được Sách từ đời này sang đời khác. Có sách là có văn minh. Tôn trọng Sách là tôn trọng Quyền con người. Không có ngôn ngữ xấu hay ngôn ngữ đẹp. Chỉ có những ngôn ngữ bình đẳng – chỉ có những từ bình đẳng – cho dù để diễn tả bất cứ một nội dung nào."

2. Theo thống kê tại Nhật Bản trong năm vừa qua, số lượng sách và tạp chí phát hành tại đất nước này vẫn gia tăng một cách đều đặn trong 10 năm gần đây, với tốc độ đáng mơ ước tại nhiều quốc gia là trên 7% mỗi năm. Đối với phần đông người dân Nhật Bản, việc đọc sách đã trở thành một thói quen đã ăn sâu bén rễ mà họ sẽ không dễ dàng từ bỏ. Họ luôn tận dụng mọi thời gian rảnh rỗi để mà đọc sách, trong lúc chờ, trên tàu điện… Đọc là một trạng thái lao động và vận động sự tư duy. Điều đó một phần nào cho thấy sự phát triển không ngừng ở đất nước mặt trời mọc này xuất phát điểm từ những con người đọc.

3. Tôi vẫn thường nghe câu cửa miệng của bạn trẻ ngày nay là “cần gì thì lên mạng tải về” và chưa bao giờ việc tải sách điện tử (ebook) lại dễ dàng hơn bao giờ thế. Nói là thế nhưng nhìn nhận ở góc độ người nước ngoài khi đến Việt Nam lần đầu tiên, một cách tinh ý họ đã có thể nhận ra “ở đất nước các bạn, hầu như không ai đọc sách” – một anh bạn người Hà Lan đã bảo tôi như thế. Tải về rồi thì có hay không sự đọc?

4. Cái thời của tôi, cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, việc sở hữu một quyển sách đã là tốn kém lắm rồi nên ít đứa nào được cha mẹ cho tiền mua sách, phần lớn đều là mượn hoặc thuê lại từ các tiệm cho thuê sách truyện. Ở khu phố nơi tôi ở, cứ vào mùa hè lứa khách nhí luôn túc trực ở các tiệm sách và dường như chưa bao giờ là đủ để thỏa mãn sự đói sách của chúng tôi.

5. Ngày nay, ở một thành phố bị nhiều xáo trộn đến từ sự phát triển kinh tế và công nghệ như Sài Gòn này từ những ngày đầu khi áp dụng chính sách mở cửa trở lại vào những năm thập niên 90 cùng với sự bành trướng của những tiệm thức ăn nhanh, trung tâm thương mại, giải trí, rạp chiếu phim thì việc những hiệu sách đang dần thu hẹp, đặc biệt là những tiệm cho thuê sách đang dần biến mất là chuyện khó tránh khỏi. Các nước phát triển cũng đã phải trải qua điều tương tự vậy nhưng lại đến từ yếu tố chính trị và tôn giáo khi sách bị coi như là một thứ bệnh dịch hạch cần phải loại bỏ ra khỏi một xã hội hơn là từ yếu tố chủ quan con người.

6. Sự biến mất của các hiệu sách là hiện tượng tất yếu trong xu thế nhưng là bất thường trong một xã hội cho dù nó được thay thế bằng phương tiện khác trong nhịp sống hiện đại này. Vốn dĩ phương tiện không thể thay thế giá trị điều mà cụ thể trong phạm vi bài viết này là những quyển sách mang lại. Những quyển sách truyền tay thay vì những ấn bản điện tử chia sẻ nhau qua hộp thư điện tử hoặc kênh điện tử nào đó. Truyền tay là sự tiếp xúc thật ngoài đời, người với người nhưng ấn bản điện tử chỉ thuộc về thế giới ảo.

7. Câu hỏi đặt ra lần cuối cùng bạn ghé tiệm thuê sách truyện hay hiệu sách là khi nào? Bao lâu trong một tháng chúng ta đến đó? Trước khi chúng ta kịp nhận ra điều đó, bắt đầu là những tiệm cho thuê sách đang dần mất đi. Bạn có nhận thấy điều đó không?

Thư Lê 

(Vui lòng trích dẫn nguồn khi chia sẻ, xin cám ơn)

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2015

Những gam màu giữa Sài Gòn

(Sài Gòn Tiếp Thị - 16/3/2015) Trong lời ngỏ, tác giả Phạm Công Luận đã chia sẻ rằng: “Chẳng ai thực sự biết hết mọi điều về thành phố mình đang sống cho dù ở đó cả đời. Điều đó thật dễ hiểu”. Đặc biệt, với Sài Gòn có tuổi đời tuy chỉ mới hơn 300 năm và với một kẻ sinh sau đẻ muộn ở những năm cuối thể kỷ 20 thì Sài Gòn là một điều gì đó nửa gần nửa xa.

Gần là vì chỉ cần thức giấc bình minh, ngũ quan đều cảm nhận được nhịp sống, hơi thở của Sài Gòn và vẫn còn đó những con đường xưa cũ, những chợ, những gánh hàng rong, những địa danh gắn liền tên tuổi, lịch sử. Xa là khi chạm đến những trang sách, những câu chuyện kể lại từ các nhân chứng sống mà tác giả Phạm Công Luận đã gom góp thành quyển Sài Gòn chuyện đời của phố II (tác giả Phạm Công Luận, Nhà xuất bản Văn hóa-Văn nghệ TPHCM phát hành tháng 2-2015) bỗng thấy chưa bao giờ mình biết hết, hiểu hết về nơi sinh ra và lớn lên này.

Màu tím

Đó là sắc màu tím than biểu thị cho sự hoài niệm về những điều đã qua trong bốn thập niên (1950-1980). Một Sài Gòn được kể lại từ những ký ức của thế hệ trước. Một Sài Gòn đã nuôi dưỡng và thắp sáng những tài năng đến từ mọi vùng đất nước tựu về đây, cũng như những người con cháu ngay tại mảnh đất này từ những ngày đầu khẩn hoang; đồng thời là nơi tiễn chân người đi với cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng như câu chuyện nữ kịch sĩ Kiều Hạnh, nhạc sĩ Lê Mộng Bảo, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Trung Cang, kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng, nghệ sĩ Năm Châu…

Màu xanh lá

Trong câu chuyện Về Bà Chiểu, rảo hàng bàng, thời gian được lùi lại vào những năm đầu thế kỷ 20 khi Sài Gòn chỉ là mảnh đất nhà cửa còn thưa thớt, vẫn những ruộng đồng xanh mướt với những cây bàng, cây sanh… xanh rợp đường đi hay như rạch Nhiêu Lộc mặt nước xanh trong đến mức “có thể nhìn thấy đồng xu chìm xuống chỗ nước cạn” trong Nhiêu Lộc, dòng rạch dòng đời”.

Màu xám trắng

Màu của ánh xà cừ được cẩn trên tủ thờ, tràng kỷ, sập gụ, tủ chè, cặp liễn đối, cái khay… mà đối với người Sài Gòn ngày trước, họ xem như gia bảo và chỉ xuất hiện trong những gia đình giàu có, trung lưu. Ngày nay, chúng ta vẫn còn thi thoảng thấy những đồ cẩn xà cừ này nhưng cũng không còn quý trọng như trước khi xu hướng hiện đại đã khác đi. Những bức hình chia sẻ lại trong câu chuyện Đồ Cẩn Xà Cừ như một sự nhắc lại về những món đồ đã từng là biểu tượng của sự sung túc và nếp gia phong trong các gia đình người Sài Gòn ngày trước.

Màu xanh dương

Màu xanh dương không thể hiện rõ ràng, cụ thể trong Sài Gòn chuyện đời của phố nhưng người đọc có thể cảm nhận được màu xanh qua niềm tin và hy vọng mà những câu chuyện trong quyển sách mang lại. Những câu chuyện đã nhắc lại rằng, chúng ta đã từng có những thành tựu do chính chúng ta tạo nên, chúng ta đã từng xây dựng thành công siêu thị đầu tiên cho người Việt vào năm 1967, chúng ta có Nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam là nhà xuất bản nhạc đầu tiên của Việt Nam có tên trong danh mục các nhà xuất bản quốc tế “World Wide Trade Category”, một đồ án quy mô vẫn còn dở dang của chợ Bến Thành… Điều đó có nghĩa, chúng ta đã từng làm được thì tất yếu chúng ta lại sẽ tiếp tục làm được.

Sài Gòn vẫn đang sản sinh những người tài, lớp trẻ tài năng kế thừa những đặc tính, tinh hoa và giá trị của đời trước và sau đó lại sẽ tiếp nối xây dựng những thành tựu mới. Một điều chắc chắn là Sài Gòn sẽ luôn tiếp tục đổi mới và phát triển cùng với xu thế chung của các nước trong khu vực và thế giới. Bức tranh màu sắc qua những câu chuyện từ Sài Gòn chuyện đời của phố II không chỉ là sự hoài niệm của những con người ngày hôm qua mà còn là sự kể lại cho những người con ngày hôm nay. Đọc để nhìn thấy và chúng ta biết rằng, đã có một Sài Gòn như thế, hãy luôn tin yêu, gìn giữ bản thể tốt đẹp vốn có của Sài Gòn!
Thư Lê

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2015

THƠ – Hình Thức Tối Cao của TỰ DO

• Chủ nghĩa Tiền phong và Hậu Hiện đại nông nổi hiện nay cũng là biểu hiện của sự thiếu tự do.
• Ruồng bỏ, hay thờ ơ với thơ là một biểu hiện của sự căm ghét tự do. Ai loại bỏ thơ khỏi đời sống của mình, người đó sẽ làm hại chính mình.
• Nếu thơ không có mặt trong sách giáo khoa, thì đó là sự suy bại của con người.
Vladimir Mikusevich (sinh năm 1936) là một dịch giả rất nổi tiếng của Nga. Những bản dịch Petrarch, Chrétien de Troyes, Rilke, Novalis và bản dịch Ezra Pound gần đây của ông đã trở thành kinh điển. Sau “cải tổ” độc giả Nga mới được biết đến các tác phẩm nghệ thuật cũng như triết học của ông. Chúng đã gây được tiếng vang lớn. Dưới đây chúng tôi xin dịch cuộc trả lời phỏng vấn của ông cho báo Độc lập (Nga).
P/V: Thưa ông, trước hết ông coi mình là một dịch giả, nhà thơ, nhà triết học hay nhà văn?
V. Mikusevich: Chị biết không, tôi đồng thời là ngần ấy “nhà”. Nhưng tôi cho rằng, trong tất cả những cái tên chị đã gọi ra thì tôi là nhà thơ. Mặc dù ở phương Tây từ “poet” không còn được dùng như ta vốn thấy nữa, mà người ta dùng từ “liric”, và như vậy có thể nói, trong tất cả các lĩnh vực ấy tôi là “liric”. Song mặt khác, tôi cho rằng, cả văn xuôi cũng là thơ. Không chỉ văn của tôi đâu, mà văn xuôi nghệ thuật nói chung – đó là thơ. Thêm nữa, triết học của tôi hoà quyện với thơ đến độ khó có thể tách bạch cái này với cái kia. Nói chung, đó là truyền thống triết học Nga. Còn về dịch, nếu không là thơ thì dịch là gì nhỉ?
P/V: Ông bắt đầu dịch trước hay làm thơ trước?
V. Mikusevich: Từ bé tôi đã tự học ngoại ngữ và biết đọc tiếng Đức từ rất sớm. Và tôi bắt đầu dịch đồng thời với làm thơ. Tôi dịch bất kể tác phẩm nào có được. Đối với tôi, dịch và thơ đan bện chặt chẽ với nhau. Với tôi dịch là đọc. Những bản dịch thơ như thế tôi làm bằng tiếng mẹ đẻ. Tôi biến chúng thành những bài thơ cho mình. Tôi có cảm tưởng là độc giả nào cũng làm như thế. Với tôi, dịch là đọc tiếp những bài thơ yêu thích.
P/V: Ông được biết đến, được in ở phương Tây. Vậy vì lẽ gì ông không ra đi?
V. Mikusevich: Với tôi, rời bỏ nước Nga là điều không thể. Thơ tôi gắn bó rất mật thiết với phong cảnh nơi đây. Cái này khai triển cho cái kia. Không chỉ thơ tôi khai triển cho phong cảnh này, mà phong cảnh này cũng khai triển cho thơ tôi.
P/V: Ông đưa vào Busenhes (tuyển tập thơ của V. Mikusevich) những bài thơ nào?
V. Mikusevich: Các bài thơ trong tuyển tập này thống nhất bởi một chủ đề chung là busenhes. Busenhes là hạt mưa bụi hay một nụ tuyết nhỏ. Mỗi bài thơ ở đây là một busenhes như thế.
P/V: Ai trong số những nhà thơ mà ông đã dịch gần gũi nhất với ông về mặt tinh thần?
V. Mikusevich: Tất nhiên toàn bộ thơ tôi “đồng khí tương cầu” với thơ Rilke. Cuộc gặp gỡ Rilke đối với tôi thật tuyệt vời. Nó đến từ rất sớm. Với Pasternac – Rilke là ngữ điệu. Với tôi – Rilke là “ông mối” giữa sự sống và sự chết. Thời gian gần đây, Ezra Pound cuốn hút tôi. Nói chung, tôi luôn thích những nhà thơ bị truy bức trong cuộc sống. Cùng với Rilke, tôi muốn kể thêm tên một nhà thơ yêu thích nữa của tôi – đó là Gottfried Benn, người bị kết tội hợp tác với chủ nghĩa Nazi và suốt nhiều năm dài không được in, nhưng vẫn viết đều. Tôi rất mê thơ trữ tình của ông. Trong tác phẩm của tôi, có thể thấy cuộc đối thoại thường xuyên với Benn, và nếu tôi ít dịch ông, thì chỉ vì tôi muốn giữ thơ ông trong nguyên bản cho riêng mình. Song về cơ bản, thơ tôi có nền tảng Nga. Các nhà thơ mà tôi dịch không có ảnh hưởng văn học trực tiếp vào tôi. Tôi e rằng, đúng hơn là chất Nga đã ảnh hưởng đến các bản dịch của tôi.
P/V: Trong văn học Nga truyền thống, ai là người thân thiết với ông?
V. Mikusevich: Bunhin và Kliuev. Ngoài ra thơ Nga cổ, thời tiền Lomonoxov có ý nghĩa rất trọng đại với tôi, tranh thánh (Icon) và sáng tác của các cha xứ trong Giáo hội nữa. Và điều chính yếu là thánh lễ Chính thống giáo, vẻ đẹp của nó. Các sứ thần Nga ở Constantinople, như chúng ta đã biết, đã tiếp nhận Chính thống giáo vì vẻ đẹp của nó. Tôi cũng là một trong các sứ thần này.
P/V: Ông đánh giá như thế nào về tình hình vặn học Nga hiện nay?
V. Mikusevich: Tôi cho rằng, vặn học Nga hiện đang mắc căn bệnh thiếu tự do, mà tồi tệ hơn là nó diễn ra không phải do ngoại cảnh. Người ta luôn có gì đó tự trói buộc mình. Và cái mà họ tự trói buộc mình rất giống với các điều cấm kỵ trước đây. Những người lớn lên trong môi trường cấm kỵ ấy không thể hình dung nổi công việc của mình khi nó không còn nữa. Thêm nữa, cái chủ nghĩa Tiền phong và Hậu hiện đại nông nổi hiện nay cũng là biểu hiện của sự thiếu tự do. Đó là mong muốn thách thức các điều cấm kỵ, mà một khi đưa ra lời thách thức với chúng, tức là chúng có thực.
P/V: Theo ông nhà thơ nên có thái độ như thế nào với chính trị?
V. Mikusevich: Nhà thơ có phản ứng với tất thảy mọi thứ. Và ở ý nghĩa này, anh ta không mắc nợ một ai cả. Sẽ là tốt đẹp, nếu anh ta viết được những bài thơ hay. Thơ, nói chung, là hình thức tối cao của tự do mà con người có thể tự cho phép mình. Thơ dẫu sao đi nữa vẫn xác định cuộc sống, ngay cả khi người ta không đọc nó. Thơ có cái năng lực thần diệu của mình. Ruồng bỏ thơ hay thờ ơ với nó – đó là một biểu hiện căm ghét tự do. Một người loại bỏ thơ ra khỏi đời sống của mình sẽ làm hại chính bản thân mình. Anh ta sẽ phải trả giá cho hành động này bằng trí nhớ tồi tệ, sớm già yếu đi. Các nhà thơ, nếu không bị giết hại, trường thọ lắm. Việc thơ không được đưa vào sách giá khoa hiện nay sẽ dẫn tới sự suy bại của con người về nhiều nghĩa. Thậm chí đến hiện tượng bệnh lý như chứng liệt dục. Bởi chính thơ gắn liền với bản năng yêu trong con người.
P/V: Ông có chia sẻ với ý kiến rằng, nhà thơ ở Nga còn hơn cả nhà thơ?
V. Mikusevich: Tôi nhất quyết không đồng ý với câu nói này. Có thể tôi không hiểu ý nghĩa của nó. Nhưng theo tôi, không gì hơn được nhà thơ, bởi vì, trong truyền thống cổ xưa Đức Chúa Trời được gọi là nhà thơ đấy.
P/V: Theo ông, xã hội nên xử sự như thế nào khi nhà thơ có ý kiến trái chiều với nó?
V. Mikusevich: Xã hội nên để cho nhà thơ khả năng được là nhà thơ. Dân chủ vì điều này, và dân chủ phải cho phép nhà thơ được có và nói lên tiếng nói của mình.
Ngọc Phương Trang dịch.

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

Lưỡi Gươm – Bàn về nghệ thuật chỉ huy

Lưỡi Gươm – Bàn về nghệ thuật chỉ huy của Charles De Gaulle hay được biết đến là Tướng De Gaulle (dịch bởi Thi Hoa, NXB Thế Giới, liên kết phát hành với Sao Bắc Media, tháng 11/2014) là quyển sách không dành cho số đông và trong số ít còn lại cũng chưa hẳn là đối tượng đọc của sách nếu như chưa từng nắm giữ vai trò lãnh đạo trong bất kỳ hoạt động nào. Bởi vì ngay tựa đề sách đã chỉ ra vấn đề mà quyển sách bàn luận – nghệ thuật chỉ huy, tất nhiên cũng sẽ không giới hạn những ai đang tìm kiếm những điều cần biết về vai trò của người chỉ huy hay như những góc cạnh tối cần thiết để trở thành một người chỉ huy thực sự.

Lưỡi Gươm – Bàn về nghệ thuật chỉ huy là một cuốn sách mỏng nhưng những điều tướng De Gaulle viết tại đây, sau hơn một thập kỷ vẫn là một tuyệt tác có giá trị và có thể nói đã mô tả hiện trạng của quân nhân trong thời bình của bất kỳ quốc gia nào (hay chí ít tại Việt Nam). Tôi tin rằng đó sẽ là những điều bất biến để mỗi khi đọc lại, bạn vẫn tìm thấy chân lý bởi lẽ có những thời điểm trong cuộc đời chúng ta sẽ có những sự kiện xảy đến ở mỗi cột mốc khác nhau. Trong mỗi lần khác nhau đó, chúng ta lại tìm thấy lời đáp trong quyển sách này vốn dĩ những lần đọc trước hay lần đầu đọc, chúng ta không thể nào hiểu và thẩm thấu chỉ đến khi sự kiện xảy đến.

Có tất cả năm tiểu luận trong quyển sách này là bàn về hành động trong chiến tranh, bàn về cá tính, bàn về uy tín, bàn về học thuyết, chính khách và quân nhân đã khái quát hóa mọi góc nhìn về nghệ thuật chỉ huy. “Khởi thủy là lời? Không, khởi thủy là hành động!” (Faust) – ngay từ mở đầu của Bàn về nghệ thuật chỉ huy, tướng De Gaulle đã nhấn mạnh ngay tầm quan trọng của hành động. Trong trận chiến, “dòng chảy hỗn độn liên tục thay đổi của những tình huống” (*), trí năng và tư duy logic dù hoàn hảo đến đâu đôi khi cũng để “lọt lưới” những dữ kiện hay yếu tố mà có thể chứa đựng tính bất ngờ để đánh bật chiến lược trận đấu vào phút cuối. Vậy nên “khởi thủy là hành động” và điều đó không có nghĩa cứ xông ra trận là hành động mà là cần đến những phương pháp cấu thành từ trí năng, tư duy logic để tối thiểu những rủi ro mang tính bất ngờ bổ trợ cho việc hành động một cách hiệu quả hơn.

Lý thuyết là vậy và mỗi người trong chúng ta khi sinh ra không biết ai là người bẩm sinh sở hữu tính cách như một người chỉ huy vĩ đại. Tất cả đều phải qua một thời gian phối ngẫu cùng sự kiện mang tính quyết định của lịch sử, người sở hữu cá tính là người sẽ được công chúng chọn trái với trong điều kiện thời bình, cá tính không phải là lựa chọn của số đông. Trong Bàn về cá tính, ngài đã chỉ ra đặc tính nổi trội của người sở hữu cá tính đó chính là “xuất hiện niềm đam mê tự mình hành động” (*) nó cũng giống như cách, Alexander Đại Đế đã chinh phục được Châu Á, Napoleon đã sáng lập nên nền Đế Chế, Columbus khám phá ra Châu Đại dương… Tuy nhiên, cá tính cũng có hai mặt của nó, nó chỉ tốt trong hoàn cảnh nào và nó trở thành thảm họa trong hoàn cảnh nào. Người sở hữu cá tính hoặc là một chỉ huy tốt hoặc chỉ là một kẻ hữu danh vô thực.
Theo đó, uy tín cũng là một trong những yếu tố tác động đến việc anh có là một tay chỉ huy đáng tin cậy và dẫn đến lợi ích chung cho số đông tập thể hay không. Người cá tính, có trí năng và tư duy hơn người nếu không bàn đến phẩm chất của người đó, khi đặt vào bối cảnh chính trị thì đó lại là một vấn đề khác và có khi thách thức hơn. “Công cuộc Hy Lạp hóa, trật tự La Mã, Thiên Chúa giáo, các quyền con người, nền văn minh hiện đại tồn tại được là nhờ có sự nổ lực bằng xương máu của quân đội.”(*)

Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ có thể đi qua một số điểm trong quyển Lưỡi Gươm – Bàn về nghệ thuật chỉ huy ở góc độ cá nhân và kinh nghiệm bản thân. Chưa bao giờ là đủ để hiểu hết tinh thần của quyển sách hay tinh thần quân nhân của tướng De Gaulle. Quyển sách đáng giá cho bất kỳ ai đang giữ trò chỉ huy hay trong thế trận cuộc chơi. 

Sách hiện đã có mặt tại Thư viện iBookStop, độc giả quan tâm có thể mượn đọc hoặc đặt mua tại đây.
Thủ thư Cú Mèo
Thư viện & Không gian tri thức iBookStop
Lầu 5 - 98 Thích Quảng Đức, P. 5, Q. Phú Nhuận, TP.HCM
ask@ibookstop.vn - ibookstop.vn@gmail.com
0903.61.31.67 - (08) 6292 1917
www.iBookStop.vn

(*) trích dẫn từ trong sách

Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2014

Văn Học & Cái Ác

Văn học và Cái Ác (Le Littérature et de mal) là tên của một quyển sách xuất bản lần đầu vào năm 1957 tại Pháp được viết bởi một học giả nổi tiếng với các tác phẩm nghiên cứu văn học, nhân loại học, triết học, kinh tế, lịch sử nghệ thuật và xã hội học – Georges Batalille (1897 – 1962) và sau đó được dịch sang tiếng Việt phát hành năm 2013 (Ngân Xuyên dịch và giới thiệu, NXB Thế Giới, phát hành bởi Sao Bắc Media). Đó là một khoảng cách thời gian khá lớn và vì thế, nó đã trở thành một tác phẩm khó đọc phần vì các tác phẩm Georges Batalille đề cập được viết cùng thời với ông như Đồi gió hú (Emily Bronte), Cuộc hôn phối Thiên đàng và Địa ngục, Bộ tứ Zoa, Milton, Jerusalem (William Blake), 120 ngày, Justine (Sade), Bản án, Bức tường Trung Hoa (Franz Kafka)… Ngoại trừ Đồi gió hú thì những tác phẩm còn lại chưa có bản dịch tiếng Việt và phần vì Georges Batalille vốn được xem là một con người kỳ quặc, có những tư duy suy nghĩ rất khác với số đông trong giới viết lách vào thời bấy giờ, bởi điều đó đã làm những câu cú, cách viết của ông không dễ tiếp thu, thường là một loạt tỉnh lược để biểu thị sự bế tắc của cách diễn đạt mà ông tin rằng nó đã vượt ngưỡng tồn tại ở ngoài từ ngữ.

Trong bài viết này, tôi không viết về Văn học và Cái ác của Georges Batalille mà chỉ lấy cảm hứng từ tựa đề của tác phẩm này để viết về văn học và cái ác trong văn học hiện đại. Như một mặc định, sứ mệnh của văn học là hướng thiện, dù có những tác phẩm đẩy xuống tột cùng của nỗi đau, chết chóc hay thống khổ thì sau đó và trong đó luôn chứa đựng thông điệp tốt đẹp. Khi nghĩ đến cái ác, chúng ta nghĩ đến những việc làm, hành vi gây tổn hại lợi ích đối phương, người khác nhằm thỏa mãn nhu cầu lợi ích của bản thân.

1. Tác phẩm Sau nửa đêm (Huỳnh Thanh Xuân dịch, NXB CAND, 2007) của Haruki Murakami tuy ít được nhắc đến trong số những tác phẩm của ông nhưng lại là tác phẩm mô tả trọn vẹn sự ám ảnh tư bản của Nhật Bản trong ông. Chỉ có thông qua tác phẩm, cảm giác trống rỗng về linh hồn của những con người và những tác động tiêu cực của tâm lý như được giải tỏa. Điều đó phản ánh một giai đoạn “khó ở” ở Nhật Bản, sức ép của cuộc sống tư bản hiện đại đã tạo vách ngăn giữa con người với nhau và sự chịu đựng đã đến ngưỡng cần phải thét lên. Và, Haruki Murakami đã chọn viết nó ra như một sự giải phóng tinh thần.

Ông đã mô tả chi tiết cách kẻ sát nhân đã cảm thấy thỏa mãn như thế nào khi lưỡi dao rạch một cách từ từ trên cơ thể con người, cái cách mãn nguyện khi nhìn thấy dòng máu từ từ tuôn chảy trong sự gào thét vô vọng của nạn nhân. Sự đủng đỉnh với những lý giải của tên sát nhân về việc hắn bắt buộc phải ra tay luôn là sự bao biện, dung túng tâm hồn cô độc khao khát được nghe thấy sự tồn tại của hắn trên cõi đời này.

2. Tác phẩm thứ hai là Mùi Hương (Lê Chu Cầu dịch, NXB Văn học, 2007, giá bìa 50.000 đồng) của Patrick Süskind và có vẻ như đây là tác phẩm thành công duy nhất để đời của ông vì sau đó ông không còn viết những tác phẩm lớn nào khác. Tất cả những gì viết về ông rất ít ỏi nhưng tôi nghĩ Mùi Hương là tất cả những gì nói về ông. Ông đã tạo nên nhân vật Jean-Baptiste Grenouille, được mô tả là người khép kín, cô độc và “bị quỷ ám”. Ông đồng thời cũng khắc họa sự ám ảnh về mùi hương của hắn vì kinh hãi “uế khí” của người thường đã buộc hắn phải sống tránh xa con người, đi tìm một mùi hương tối thượng và đó là lúc hắn nhận ra sự tối thượng ấy cần phải được tạo nên bằng sự chưng cất mùi hương của 25 trinh nữ. Từ một người không có mùi hương đến lúc tạo được một mùi hương tối thượng và sau đó trở thành nạn nhân cũng chính cái mà mình tạo ra nhưng hắn chưa bao giờ hối hận về điều đó.

Dục vọng về mùi hương cũng giống như dục vọng về danh lợi. Danh lợi không phải là cái bẩm sinh và danh lợi sớm muộn gì thì cũng đi vào hư không. Có chăng khi ông viết tác phẩm này cũng là lúc ông trải nghiệm, đủ để thỏa mãn dục vọng trong ông và sau đó ông không muốn đánh đổi nó trong đời thật bằng việc ông đã từ chối tất cả các giải thưởng danh giá dành cho tác phẩm, những buổi gặp gỡ, phỏng vấn với giới truyền thông. Trong triết lý nhà Phật, có lẽ như ông đã nhập niết bàn bằng trí tuệ cái ác của ông.

3Sau cùng, tác phẩm tôi nói đến ở đây chính là loạt sách Hannibal của Thomas Harris. Có tất cả bốn tác phẩm trong series nhưng chỉ có hai tác phẩm được dịch và phát hành tại Việt Nam là Sự im lặng của bầy cừu (Phạm Hồng Anh dịch, NXB Hội nhà văn, 2014, giá bìa 90.000 đồng) và Hannibal (Thu Lê dịch, NXB Hội nhà văn, 2013 giá bìa 108.000 đồng). Thomas Harris đã thành công khi tạo dựng nhân vật nắm giữ hai vai trò – một là bác sĩ tâm thần xuất sắc và một là kẻ ăn và giết người hàng loạt.

Hannibal tận mắt chứng kiến em gái mình đã bị Đức Quốc Xã giết và ăn thịt đồng thời sau đó bản thân hắn cũng trở thành nạn nhân ở một nơi gọi là trại mồ côi. Vết thương tinh thần quá lớn nhưng hắn đủ thông minh để thi vào trường y, trở thành tiến sĩ tâm lý học. Từ đây, những tội ác của hắn gây ra đều không để lại sơ hở và thuận lợi hơn trong vai trò bác sỹ tâm lý. Thomas Harris không bao giờ giải thích nguồn cảm hứng để tạo dựng nên nhân vật Hannibal này nhưng ở vai trò là phóng viên, nhà báo, ông đã từng theo qua và thậm chí tham dự phiên tòa xét xử những vụ giết người hàng loạt năm 1960 và 1992, sự ám ảnh về rối loạn nhân cách của các hung thủ không ít thì nhiều để lại dấu ấn trong ông, cũng như đủ để ông tạo dựng một hình ảnh nhân vật kinh dị xuất sắc.

Chúng ta cũng thấy rất nhiều điều đằng sau câu chuyện của các tác phẩm. Bối cảnh ra đời của tác phẩm cũng như những tác động sâu sắc của xã hội, những ám ảnh day dứt trong tâm tưởng tác gia và đến một thời điểm nào đó nó cần bùng phát. Mặt khác, chúng ta cũng thấy rằng những tội nhân thường cũng chính là nạn nhân hệ lụy, là nạn nhân của gia đình và xã hội.

Như trong các tác phẩm ta thấy, chỉ cần một lần “biến”, các nhân vật đã nổi trôi giữa dòng đời “vạn biến” và bị nhấn chìm trong vòng xoáy cuộc đời. Vậy nên cái ác trong văn học là một sự cảnh tỉnh trước khi chúng ta trở thành nạn nhân của “dòng đời vạn biến”.

Thư Lê


Các bạn có thể mượn đọc những sách trên từ thư viện, vui lòng truy cập website www.ibookstop.vn hoặc email ask@ibookstop.vn hoặc ibookstop.vn@gmail.com để biết thêm chi tiết.


Bài viết được đăng trên Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn số 23-2014 (1.225), ra ngày 05/6/2014